Một hành trình bão táp từ Pháp qua Ý, các công trình kiến trúc và nghệ thuật đầy cảm hứng, cùng những đàn bồ câu không hòa bình...
I. LỤC LẠI KÝ ỨC
Tôi có một thói quen xấu cần phải khắc phục là chụp một đống ảnh qua mỗi chuyến đi cho chật ổ cứng, sau đó thì rơi vào quên lãng. Có thể có vài tấm ảnh được chọn cho lên Facebook, số còn lại nằm mốc ở đâu đó. Không xóa đi, cũng không được sờ tới.
Thoảng nghe rằng, thói quen để ảnh lên men là một loại bệnh truyền nhiễm của tất cả những người chụp ảnh. Thật vậy, niềm vui chụp ảnh và nhìn qua chiếc màn hình EVF bé tẹo thì có, nhưng sau đó đổ file ra máy tính thì tụt hết cả hứng. Đó cũng là lý do cực kỳ nặng ký khiến cho Fuji thành công tới thế. Một tấm ảnh màu đầy chất thơ có thể đi thẳng từ thẻ nhớ lên Facebook hay Instagram, lượm một đống tim trước khi cảm biến kịp nguội.
Điều này phải sửa chữa, không thể để sự lười biếng này đi vào cốt tủy được. Bộ ảnh tua lại ký ức đầu tiên là chuyến hành trình xuyên Pháp - Ý vào dịp cuối năm 2018, gặp gỡ hai tòa tháp.
II. TÒA THÁP THỨ NHẤT
Công ty tôi trước đây có một truyền thống lâu đời lạ lùng là, khi người ta đang đón Tết Dương lịch trong tiết trời dịu dàng pha chút nắng đầu đông, thì chúng tôi kéo nhau mặc áo khoác và kiếm chỗ nào lạnh teo mỏ để đi. Lần này là châu Âu. Đây là một chuyến bay dài ban đêm, và cũng là một hành trình vô cùng đau lưng, đau nhiều chỗ khác, và khá ám ảnh.

Sau khi quá cảnh tại Dubai, hít đủ mùi vàng và sự sang chảnh, thì địa điểm đầu tiên khi vừa chân ướt chân ráo tới nước Pháp là diện kiến tòa tháp thứ nhất, tháp Eiffel. Cục sắt biểu tượng này đứng im lặng giữa tiết trời Paris có chút mù mờ và sền sệt.

Khách du lịch đông như kiến, bu lại selfie hàng chục tư thế trước biểu tượng của kinh đô ánh sáng và tình yêu. Trong khi đó, những người bán hàng rong vừa ngó chừng cảnh sát, vừa dấm dúi bày các mẫu tháp sắt, đúc bằng kẽm Zamac dập chìm thương hiệu toàn cầu "Made in China". 35 euro một chiếc! Nếu bạn mặc cả khéo sẽ mua được hai cái với giá 50, kèm một bịch kẹo dứa y chang Hải Hà Kotobuki huyền thoại, như lời cảm ơn đã ghé thăm.
Paris về đêm cũng náo nhiệt. Chúng tôi xuôi dòng sông Seine trong tiết trời giá rét, ngang qua nhà thờ Đức Bà Paris, ngắm lại tháp Eiffel ban đêm. Lúc này nó thực sự rực rỡ, sương mù hòa với đèn sáng lấp lánh khiến khung cảnh vô cùng mộng ảo. Sông Seine cuộn lên từng làn hơi nước theo gió thổi lạnh buốt, và không gì tuyệt vời hơn là một bữa tối với súp khoai tây nghiền, bánh mì và rượu vang đỏ. Chỉ vài tháng sau chuyến đi, vào tháng 4 năm 2019, nhà thờ Đức Bà bốc cháy dữ dội và phải mất gần sáu năm mới mở cửa trở lại. Những tấm ảnh chụp vội hôm ấy, nghĩ lại, hóa ra cũng đáng giữ.
Cung điện Versailles và bảo tàng Louvre dành cho ngày kế tiếp, mang lại ấn tượng khó phai về sự huy hoàng, tráng lệ của nghệ thuật và văn hóa. Ở Versailles, sau khi đi qua Phòng Gương với những chùm đèn pha lê và các phòng ngủ hoàng gia bọc gấm đỏ vàng, cả đoàn ra khoảng sân lát đá trước cung điện và thi nhau nhảy lên chụp ảnh, mua vui cho vua Louis XIV, nếu ngài vẫn nhìn thấy.
Ở Louvre, có một bức tranh vô cùng nổi tiếng về người phụ nữ có nụ cười bí hiểm mà có lẽ ai cũng biết, được treo trên tường, nằm lọt thỏm trong lồng kính với bốn ông bảo vệ đứng coi. Người bu đen kín, mỗi đợt xếp hàng đi qua được ngắm nghía, tưởng tượng và hít hà lịch sử. Đó là bức Mona Lisa của đại danh họa Leonardo da Vinci.

Nàng Mona Lisa bé tẹo, cách xa người xem ba mét có lẻ, nhìn như một con tem dán trên một bì thư xỉn màu. Trải nghiệm của người xem hẳn là một hiệu ứng giả dược, vì chẳng đủ thời gian để hấp thụ xíu nào về kỹ thuật Sfumato đỉnh cao (mà ở Photoshop thì bạn gọi là Mixer brush đó!). Không biết mấy ai tự hỏi Leonardo đã tốn bao công sức cho quý bà Lisa del Giocondo, ít nhất là giữ cho bà ngồi im và không cáu tiết vì tốc độ vẽ rùa bò của ngài. Theo lời kể của Vasari, người viết tiểu sử các họa sĩ thời đó, Leonardo còn phải thuê nhạc công, ca sĩ và người pha trò để giữ cho quý bà Gherardini khỏi buồn chán và sầu bi. Thời nay, có lẽ chỉ cần cho bà một chiếc điện thoại cài TikTok là quá đủ.
III. BĂNG QUA DÃY AN-PƠ
Chuyến xe khách chở chúng tôi được một tài xế đẹp trai hướng nội người Ý cầm lái. Anh có mái tóc bồng bềnh, chiếc mũi hơi khoằm và cuốn một chiếc khăn rất hợp mốt. Tôi ít khi thấy anh lên tiếng, và dẫu có nói thì tôi cũng chẳng hiểu anh đang nói gì, may mắn lắm thì có thể phân biệt nổi anh đang nói tiếng Ý hay tiếng Pháp mà thôi.
Cung đường chúng tôi đi sẽ ghé qua Thụy Sĩ, và bắt buộc phải băng qua dãy An-pơ hùng vĩ phủ đầy tuyết. Chúng tôi đi từ tờ mờ sáng, ai nấy ngái ngủ, và như bao cuộc đi tour mà mọi người đều biết, phần thuyết minh của hướng dẫn viên về những gì đang diễn ra ngoài cửa kính, xét cho cùng, chỉ để đưa bạn vào giấc nhanh hơn mà thôi. Hành trình này kéo dài hai ngày.
Điểm dừng chân ở Thụy Sĩ là Geneva, thành phố của các tổ chức quốc tế. Hôm ấy trời trong vắt, nắng mùa đông xiên thấp và vàng như mật, khác hẳn cái xám đặc quánh của Paris. Chúng tôi đứng chụp ảnh trước tấm biển Nations Unies của trụ sở Liên Hợp Quốc, rồi kéo nhau ra quảng trường Các Quốc gia, nơi có bức tượng Chiếc ghế gãy cao chừng mười hai mét. Chiếc ghế gỗ khổng lồ bị gãy một chân này do nghệ sĩ Daniel Berset dựng năm 1997 để phản đối mìn sát thương và bom chùm, đứng đối diện tòa nhà nơi các nước ngồi lại với nhau để bàn chuyện chiến tranh và hòa bình. Phía sau là mặt hồ Geneva phẳng lặng, bên kia bờ là những dãy núi thấp.

Đêm đó chúng tôi nghỉ lại dọc đường. Khi bình minh của ngày thứ hai ló rạng và chiếu lên những mảng tuyết trắng phau, chúng tôi đã tỉnh dậy để không bỏ lỡ những khoảnh khắc tuyệt đẹp và hùng vĩ của An-pơ.
IV. NHỮNG CHIẾC CỐNG NÊN THƠ
Venice không có chỗ cho ô tô, nên xe khách chỉ đưa chúng tôi đến rìa thành phố, nơi có bến tàu và những chiếc du thuyền trắng to như tòa nhà. Từ đây cả đoàn xuống thuyền, chạy dọc kênh Giudecca để vào trung tâm. Bên tay phải là đảo Giudecca với dãy nhà thấp nhiều màu và một tòa nhà gạch đỏ khổng lồ kiểu Gothic. Đó là Molino Stucky, xưởng xay bột mì từ cuối thế kỷ 19, nay được cải tạo thành khách sạn.

Qua ảnh, Venice thực sự rất đẹp. Ở đây, bạn sẽ được ngồi trên những chiếc gondola dài, hẹp, sơn đen bóng, do các anh chàng lái đò mắt xanh với bộ râu quai nón quyến rũ chở đi khắp các kênh rạch, giá 150 euro một thuyền cho 60 phút. Thuyền của chúng tôi luồn qua những con kênh hẹp giữa hai dãy nhà cổ, rồi chui qua Cầu Than Thở (Ponte dei Sospiri), cây cầu đá có mái che nối Cung điện Tổng trấn với nhà tù cũ. Người ta kể rằng tù nhân khi bị giải qua cầu được nhìn đầm phá lần cuối qua ô cửa sổ nhỏ và buông tiếng thở dài, từ đó cây cầu có tên như vậy. Câu chuyện này thực ra được nhà thơ Byron thêu dệt thêm vào thế kỷ 19, nhưng giờ thì chẳng ai muốn kiểm chứng nữa.
Thành phố Venice được xây trên khoảng 118 hòn đảo nhỏ, giao thông chủ yếu bằng đường thủy. Nước trong các kênh là nước lợ, thông với biển Adriatic. Thành phố trong nhiều thế kỷ không có hệ thống cống ngầm tập trung, nhà cửa xưa kia thải nước thẳng ra kênh và trông cậy cả vào thủy triều lên xuống mỗi ngày hai lần để cuốn đi. Ngày nay các công trình mới phải có bể tự hoại, nhưng nước kênh vẫn chẳng sạch sẽ gì, cấm tắm, và mùa hè lúc triều xuống thì có chỗ bốc mùi. Nhờ có thủy triều nên nó chưa đến mức sông Tô Lịch, nhưng cũng đừng dại mà thò tay xuống vốc nước. Cho đến cuối thế kỷ 19, Venice không có nguồn nước ngọt. Người dân phải hứng nước mưa vào các bể ngầm, lọc qua các lớp cát và lấy lên từ những miệng giếng đá mà ta có thể bắt gặp khắp các quảng trường nhỏ trong thành phố.
Venice có khá nhiều điều hay ho kỳ lạ. Chẳng hạn có một cây cầu tên là Ponte delle Tette, tạm gọi là cầu Ngực Trần. Theo ghi chép, vào thế kỷ 16, khu này tập trung các cô gái bán hoa và họ được chính quyền cho phép để ngực trần bên cửa sổ nhằm thu hút đàn ông trong thành phố. Gần đó còn có Ponte dei Pugni, cầu Nắm Đấm. Ngày xưa, hai phe dân thành phố đối địch nhau thường hẹn lên cây cầu này đấm nhau, mục tiêu là đẩy đối thủ rơi xuống kênh. Ngoài ra còn có con hẻm mang tên Rio terà dei Assassini, nghĩa là hẻm của những kẻ sát nhân.
Quảng trường San Marco (Piazza San Marco) là nơi duy nhất ở Venice được gọi là piazza, các quảng trường còn lại đều chỉ được gọi là campo. Ở đây có vương cung thánh đường San Marco (Basilica di San Marco), và tòa tháp gạch đỏ cao vút bên phải là tháp chuông San Marco (Campanile di San Marco). Tòa tháp này thực ra mới hơn trăm tuổi. Tháp cũ đứng gần một nghìn năm đã bất ngờ đổ sập vào một buổi sáng tháng 7 năm 1902, may không ai thiệt mạng, trừ con mèo của người trông tháp. Người Venice quyết định xây lại đúng như cũ và tháp mới khánh thành năm 1912. Hôm chúng tôi đến, hàng vòm quanh quảng trường vẫn còn giăng đèn Giáng sinh, mặt sân ướt loáng sau cơn mưa.


Về nhà thờ San Marco, đây là công trình mang đậm phong cách Byzantine, với năm mái vòm và mặt tiền dát tranh khảm vàng, khác hẳn kiểu nhà thờ Gothic hay Phục Hưng ở các thành phố Ý khác. Lý do là Venice từng có quan hệ buôn bán rất chặt với Constantinople. Nhà thờ được xây để thờ thánh tích của Thánh Mark, vị thánh bảo trợ của Venice. Theo truyền thuyết, năm 828, hai thương nhân Venice lấy trộm thi hài của thánh từ Alexandria ở Ai Cập, giấu dưới lớp thịt lợn để lính hải quan Hồi giáo không dám khám xét kỹ. Trên mặt tiền có bốn con ngựa đồng; những con ngựa ngoài trời là bản sao, bản gốc được đưa vào trong bảo tàng của nhà thờ. Bộ ngựa này vốn bị quân Venice lấy từ Constantinople trong cuộc Thập tự chinh thứ tư năm 1204, sau đó lại bị Napoleon mang sang Paris rồi mới được trả về.
V. MỘT NGÀY NẮNG Ở FLORENCE
Rời Venice, xe đưa chúng tôi xuôi về phía nam, sang vùng Toscana. Florence đón chúng tôi bằng một ngày nắng đẹp hiếm hoi của chuyến đi. Cả đoàn đi bộ dọc bờ sông Arno, nước phẳng như gương, in bóng những dãy nhà sơn vàng nhạt và mấy cột đèn đường kiểu cũ. Bên kia sông là cổng thành San Niccolò, một ngọn tháp đá đứng trơ trọi dưới chân ngọn đồi nơi có quảng trường Michelangelo, chỗ người ta hay leo lên để ngắm toàn cảnh thành phố.

Lẩn vào mấy con phố gần nhà thờ Santa Croce, chúng tôi gặp những ngôi tháp nhà bằng đá thời Trung cổ chen giữa các dãy nhà, như tháp Alberti với mái hiên nhỏ đỡ bằng cột đá ngay góc phố. Thời Trung cổ, Florence từng có rất nhiều tháp như vậy. Các gia tộc giàu có thi nhau xây tháp vừa để phòng thủ khi đánh nhau với dòng họ khác, vừa để khoe thế lực, cao đến mức chính quyền thành phố phải ra lệnh giới hạn chiều cao và cắt bớt. Phần lớn các tòa này đã biến mất, số còn lại giờ đứng lặng lẽ cạnh những dãy xe máy dựng san sát và những chiếc Fiat 500 đời cũ, loại xe bé xíu mà người Ý yêu như con đẻ.

Chiều hôm đó, xe đưa chúng tôi đi thêm chừng tám mươi cây số về phía biển, đến Pisa.
VI. TÒA THÁP THỨ HAI
Tháp nghiêng Pisa nằm ở thành phố Pisa, cũng thuộc vùng Toscana, miền trung nước Ý. Tính từ Paris, chúng tôi đã đi hơn một nghìn rưỡi cây số đường bộ, vòng qua Thụy Sĩ, Venice và Florence, để tới đây khi hoàng hôn đã buông xuống. Tòa tháp được chiếu sáng bằng ánh đèn, và hóa ra cũng có nét đẹp riêng, dù trông không vững chãi lắm.
Tháp Pisa thực chất là tháp chuông của nhà thờ chính tòa Pisa. Tháp được khởi công năm 1173 và bắt đầu nghiêng ngay trong quá trình xây dựng vì nền đất bên dưới mềm, nhiều đất sét và cát. Tòa tháp mất gần 200 năm mới xây xong. Khi tháp vừa lên đến tầng ba thì công trình phải dừng lại gần một thế kỷ vì Pisa liên tục đánh nhau với Genoa và Florence. Việc đình chỉ này hóa ra lại cứu tòa tháp, vì nó cho nền đất phía dưới thời gian lún và nén chặt lại. Khi xây tiếp, các thợ cả cố bù độ nghiêng bằng cách làm các tầng phía bên thấp cao hơn phía bên kia một chút. Vì thế trên thực tế, tòa tháp giống một trái chuối hơi thẳng chứ không thẳng đều. Tháp suýt đổ vào năm 1990 khi nghiêng tới 5,5 độ. Người ta đã cứu nó bằng cách đặt hàng trăm tấn chì ở chân phía đối diện với hướng nghiêng, rồi khoan rút dần từng chút đất dưới phía đó để tháp tự lún ngược lại, kéo thẳng được hơn 40 cm, đưa độ nghiêng về khoảng 4 độ. Và bởi vì nếu giờ chữa cho nó thành tháp "Thẳng Pisa" thì mất hết cả ý nghĩa, người ta quyết định để tòa tháp này cứ việc ngả ngớn như vậy.
VII. NHỮNG CHÚ BỒ CÂU KHÔNG HÒA BÌNH
Buổi tối sau khi chiêm ngưỡng tháp nghiêng, chúng tôi dùng bữa tại một nhà hàng buffet Trung Quốc gần đó. Kể thì cũng hài hước khi không được thử vài món spaghetti hay pizza trong tưởng tượng, mà được chào đón bằng gà quay, củ cải luộc và đậu phụ. Tuy nhiên, sau đó mới là một trận nhớ đời. Cả đoàn ngộ độc thực phẩm!
Thật may mắn là không nghiêm trọng, nhưng phải chăng quán buffet được mở bởi thành viên Ngũ Độc Giáo, nên triệu chứng xảy ra rất chậm rãi. Xe lăn bánh được vài chục cây số, đột nhiên hướng dẫn viên của chúng tôi bắt đầu trở nên hài hước hơn bình thường. Anh kể câu chuyện về một cô gái thả những chú chim bồ câu trên xe khách, mỗi lần cô thả một con lại kêu chíp chíp một tiếng, cho tới khi ông cụ ngồi cạnh nín thở không thể chịu nổi. Nếu bạn từng biết câu chuyện đó thì có lẽ tình cảnh của hướng dẫn viên và chúng tôi trên xe cũng không khác gì cô gái nọ là bao. Tôi đồ rằng đây là một ám hiệu để cả xe hiểu nhau hơn, vì sau đó bồ câu trên được thả tứ tung. Đồng nghiệp của tôi mặt xanh nanh vàng, vận dụng mọi nhóm cơ nhỏ nhoi để giữ cho lũ bồ câu không thoát ra, miệng vẫn thều thào hỏi: "Tới nhà vệ sinh chưa anh ơi...!"
Xe dừng và chúng tôi phi vào một quán cà phê ven đường, bắt đầu một cuộc tranh đấu thậm chí còn thảm khốc hơn. Bạn có biết lúc bạn muốn đi vệ sinh nhất là lúc nào không? Đúng rồi đấy, là khi bạn chạm tay vào cửa nhà vệ sinh và chuẩn bị ngồi xuống. Lúc này, mọi nhóm cơ trên cơ thể bạn đầu hàng trước áp lực để mong chờ sự giải thoát kịp thời. Thế nhưng, chúng tôi vẫn phải xếp hàng.
Thật là một chuyến đi ám ảnh!


VIII. VATICAN
Điểm cuối hành trình là Rome, và việc đầu tiên là ghé thăm Bảo tàng Vatican (Musei Vaticani). Vatican là quốc gia nhỏ nhất thế giới, chưa đến nửa cây số vuông, nhưng hàng người xếp trước cổng bảo tàng thì dài như đi xin visa. Chúng tôi đứng chờ dưới bức tường thành cao ngất, trước cánh cổng vòm có khắc hàng chữ MVSEI VATICANI và cụm tượng đặt bên trên.

Vào bên trong là một mê cung của nghệ thuật. Sân Quả thông (Cortile della Pigna) có một quả thông bằng đồng cao gần bốn mét từ thời La Mã cổ đại, xưa kia vốn là một đài phun nước. Ở phòng bát giác với trần vẽ tranh là pho Tượng thân Belvedere, một khối đá cẩm thạch không đầu, không tay chân mà Michelangelo vô cùng ngưỡng mộ. Người ta kể rằng giáo hoàng từng nhờ ông tạc thêm phần còn thiếu nhưng ông từ chối, vì cho rằng nó đã hoàn hảo như vậy. Phòng Tròn (Sala Rotonda) được xây theo hình mẫu đền Pantheon, giữa phòng đặt một chiếc bồn đá đỏ khổng lồ, xung quanh là các pho tượng thần đứng trong hốc tường đỏ, trong đó có chiếc đầu tượng thần Jupiter râu tóc xồm xoàm to gấp mấy lần người thật. Sau đó là những hành lang dài hun hút với trần dát vàng và vẽ tranh kín mít.
Điểm cuối của lộ trình bảo tàng là Nhà nguyện Sistine, nơi Michelangelo nằm ngửa trên giàn giáo suốt bốn năm để vẽ lên trần nhà. Ở đây cấm chụp ảnh, nên bạn chỉ còn cách ngửa cổ lên nhìn cho đến khi mỏi gáy, và lần đầu tiên trong chuyến đi, chiếc máy ảnh được nghỉ ngơi.
Khi bước ra thì trời đã sẩm tối. Quảng trường Thánh Phêrô lên đèn, hàng cột đá vòng tay ôm lấy khoảng sân rộng mênh mông, cây thông và hang đá Giáng sinh vẫn còn đó. Bên trong vương cung thánh đường gian giữa dài đến mức người đứng cuối nhà thờ trông bé như con kiến, và mọi thứ đều được làm ra với một tỷ lệ khiến con người phải cảm thấy nhỏ nhoi.
IX. ROME VỀ ĐÊM VÀ ĐỒNG XU Ở TREVI
Đêm đó chúng tôi ghé Đấu trường La Mã (Colosseum). Dưới ánh đèn vàng, khối đá gần hai nghìn năm tuổi hiện lên đồ sộ và sứt mẻ. Bên cạnh là Khải hoàn môn, dựng năm 315 để mừng chiến thắng của hoàng đế Constantine. Cả đoàn đứng xếp hàng chụp một tấm ảnh tập thể trước đấu trường, mặt mũi ai cũng đã tươi tỉnh trở lại sau trận bồ câu hôm trước.

Sáng hôm sau, nắng lên rực rỡ trên đài phun nước Trevi, công trình bằng đá trắng hoàn thành năm 1762 là đài phun nổi tiếng nhất thế giới. Theo tục lệ, ai đứng quay lưng lại, dùng tay phải ném một đồng xu qua vai trái xuống hồ thì sẽ có ngày quay lại Rome. Mỗi năm người ta vớt lên hơn một triệu euro tiền xu từ đáy hồ và dùng số tiền đó làm từ thiện. Tôi cũng ném một đồng, coi như đặt cọc cho một chuyến đi sau, lần này mong là không có buffet Trung Quốc.

X. LỜI KẾT
Hai tòa tháp, một bằng sắt trầm mặc giữa Paris, một bằng đá ngả ngớn trên đồng cỏ Pisa. Một cái chỉ mất hai năm thành hình để khoe sức mạnh của kỹ thuật, cái còn lại mất gần hai trăm năm và nhờ bị ngừng bao lần mới tồn tại. Hành trình qua hai tòa tháp ấy là nhiều giờ trên xe, những đỉnh núi tuyết lấp lánh ánh mai, các nền văn hóa khác lạ và vài đàn bồ câu.
Gần tám năm sau mới ngồi lục lại đống ảnh này, tôi nhận ra điều đọng lại nhiều nhất không nằm ở những công trình nổi tiếng. Nó nằm ở những khoảnh khắc nhớ lại trải nghiệm của bạn cùng ai tại thời điểm đó. Dù là một serie ảnh nhiều khi như lưu niệm na ná nhau, nhưng trải nghiệm của bạn là riêng biệt. Ảnh để lâu thì lên men, nhưng có lẽ ký ức cũng cần chút men mới đủ vị.
P/S: Toàn bộ ảnh trên được chụp bởi chiếc Sony a6300 già nua với Sony 10-18 F4 và 35mmF1.8 OSS.




















